Tọa lạc trên một hòn đảo phía Đông Hồ Tây, quận Tây Hồ, Hà Nội. Chùa Trấn Quốc được xem là ngôi chùa lâu đời nhất ở Hà thành với lịch sử hơn 1.500 năm và là một trong những ngôi chùa chứa đựng nhiều điều đặc biệt trên đất Thăng Long.
Kiến trúc của chùa là sự kết hợp hài hòa giữa sự uy nghiêm, cổ kính với cảnh quan bình dị giữa sự tĩnh lặng của hồ nước mênh mông, gợi lòng du khách trở về với bình yên trong tâm hồn, bỏ hết “ tham – sân si” của cuộc đời, của cõi người.
Năm 1989 chùa được công nhận là Di tích lịch sử Văn hóa cấp quốc gia.
Theo tài liệu thì chùa Trấn Quốc là một trong những ngôi chùa vinh dự được tiếp nhiều vị khách đặc biệt nhất của lịch sử như Thái hậu Ỷ Lan, chúa Trịnh, vua Minh Mạng, vua Thiệu Trị.
Sau này, đến thời kì hiện đại chùa cũng được nhiều chính khách đến thăm: Tổng thống Ấn Độ Ragiăng Đờ Ra Brusat(1959), Tổng thống Ấn Độ Pratibha Patil (2008), tổng thống LB Nga Dmitry Medvedev (2010).
Chùa được xây dựng lần đầu vào thời vua Lý Nam Đế (544-548), khi đó ngôi chùa được đặt tên là Khai Quốc. Đến triều Lê Thái Tông thế kỷ 15, chùa được đổi tên là An Quốc, và vào thế kỉ 17 đời vua Lê Hy Tông, chùa có tên là Trấn Quốc. Chùa được trùng tu với quy mô lớn nhất là vào đời vua Lê Thần Tông năm 1639.
Giống hầu hết những ngôi chùa khác ở Việt Nam, kết cấu và nội thất chùa Trấn Quốc có sự sắp xếp trình tự và theo nguyên tắc khắt khe của Phật giáo. Gồm nhiều lớp nhà với ba ngôi chính là Tiền đường, nhà thiêu hương và thượng điện nối thành hình chữ Công .
Tiền đường hướng về phía Tây. Hai bên nhà thiêu hương và thượng điện là hai dãy hành lang. Sau thượng điện là gác chuông – một ngôi ba gian, mái chồng diêm, nằm trên trục sảnh đường chính. Bên phải là nhà tổ và bên trái là nhà bia.
Trong chùa hiện nay lưu giữ 14 tấm bia. Trên bia khắc năm 1815 có bài văn của tiến sĩ Phạm Quý Thích ghi lại việc tu sửa lại chùa sau một thời gian dài đổ nát. Công việc này bắt đầu vào năm 1813 và kết thúc vào năm 1815
Chùa chính là trung tâm Phật giáo của kinh thành Thăng Long vào thời Lý và thời Trần. Có nhiều mộ và bảo tháp cổ Phía sau chùa có một số mộ tháp cổ từ đời Vĩnh Hựu và Cảnh Hưng (thế kỉ 18).
Khuôn viên chùa có Bảo tháp lục độ đài sen được xây dựng năm 1998. Bảo tháp lớn gồm 11 tầng, cao 15m. Mỗi tầng tháp có 6 ô cửa hình vòm, trong mỗi ô đặt một pho tượng Phật A Di Đà bằng đá quý.
Đỉnh tháp có đài sen chín tầng (được gọi là Cửu phẩm liên hoa) cũng bằng đá quý. Bảo tháp này được dựng đối xứng với cây bồ đề lớn do Tổng thống Ấn Độ tặng khi ông đến thăm Hà Nội năm 1959. Thượng toạ Thích Thanh Nhã, Uỷ viên Hội đồng trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Trụ trì chùa Trấn Quốc, đã giải thích sự đối xứng đó là: “Hoa sen tượng trưng cho Phật tính chân, như tính sinh ở dưới bùn mà không bị ô uế. Bồ đề là trí giác, trí tuệ vô thượng. Tất cả đều hàm ý nghĩa bản thể và hiện tượng của các pháp”.
Chùa Trấn Quốc nổi tiếng là chốn cửa phật linh thiêng, mỗi năm chùa thu hút rất nhiều tín đồ phật tử, du khách trong và ngoài nước đến tham quan, tìm hiểu về những giá trị lịch sử và kiến trúc của chùa.
st









0 nhận xét:
Đăng nhận xét