Địa danh, địa điểm du lịch Thừa Thiên Huế

PHÁ TAM GIANG - HUẾ - THỪA THIÊN HUẾ
Phá Tam Giang giới hạn phía bắc là cửa sông Ô Lâu, phía nam là cửa sông Hương thông với biển qua cửa biển Thuận An, thuộc địa phận 12 xã của ba huyện Quảng Điền, Phong Điền, Hương Trà.
Đồng bằng ven biển Thừa Thiên – Huế có nhiều đầm phá, vũng như Phá Tam Giang, đầm thanh lam, đầm Thuỷ Tú, đầm Cầu Hai, vùng lập A. Đây là tụ hội của hầu hết các con sông trước khi đổ ra biển.
Phá Tam Giang và Cầu Hai có chiều dài gần 70 km đã án ngữ hầu hết chiều dài của tỉnh Thừa Thiên – Huế và là vùng nước lợ lý tưởng cho nhiều loài thuỷ sản sinh sống.


BÃI BIỂN THUẬN AN - HUẾ - BIỂN THUẬN AN
Bãi Biển Thuận An: Vùng cửa Thuận An là nơi gặp gỡ của dòng sông Hương trong xanh với biển Đông qua Phá Tam Giang. Dịch về phía phải khoảng 500m là bãi biển Thuận An, một điểm du lịch biển nhiệt đới hấp dẫn cách Huế 13km về phía Đông Bắc. Du khách có thể đến Thuận An bằng đường bộ qua những xóm làng trù phú, cây trái um sùm, những cánh đồng lúa bát ngát. Hoặc có thể xuôi theo dòng sông Hương Giang lướt qua những cảnh sắc thiên nhiên thơ mộng, diễm lệ ở đoạn cuối con sông.
Bãi biển Thuận An kéo dài gần 1km. Bờ biển thoai thoải cát trắng mịn màng. Hoạt động náo nhiệt nhất ở Thuận An là vào mùa tắm biển từ tháng 4 đến tháng 9. Ở đây du khách còn có thể hưởng

CHÙA TỪ ĐÀM - HUẾ - THỪA THIÊN HUẾ
Chùa Từ Đàm: Chùa tọa lạc trên một khoảng đất cao, rộng, bằng phẳng, cách trung tâm thành phố 2km. Trước chùa có núi Kim Phụng làm tiền án. Bên trái là chùa Linh Quang và nhà thờ cụ Phan Bội Châu, phía sau là chùa Thiên Minh. Chùa do hòa thượng Minh Hoàng Tử Dung sáng lập khoảng năm 1695. Năm 1703 Chúa Nguyễn Phúc Chu đã ban cho chùa tấm biển “Sắc Từ Ấn Tôn Tự”. Năm 1841, vua Thiệu Trị đổi tên chùa là chùa Từ Đàm. Năm 1936, chùa là trụ sở hoạt động của An Nam Phật Hội Học. Năm 1951, chùa mở đại hội, đặt nền móng cơ sở khởi công cuộc thống nhất Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam. Những năm 60, chùa Từ Đàm là nơi xuất phát các cuộc đấu tranh chống chế độ độc tài Ngô Đình Diệm. Sau năm 1975, chùa là nơi hội họp của Ban Tri Sự của Hội Phật Giáo Thừa Thiên Huế.

NHÀ TẠ Ở LĂNG TỰ ĐỨC - TRƯỜNG DU TẠ - NGHÊNH LƯƠNG TẠ - DŨ KHIÊM TẠ - XUNG KHIÊM TẠ

NHÀ TẠ Ở LĂNG TỰ ĐỨC: 
Không có mặt trong những cung điện quan trọng nhất - nơi tổ chức các điển lễ của Hoàng triều - hay chốn miếu mạo thâm nghiêm - nơi thờ cúng thần linh và các vị hoàng đế- quy mô kiến trúc cũng không bề thế, hoành tráng nhưng nhà tạ (tạ gia hay thuỷ tạ) vẫn là một loại hình kiến trúc rất quan trọng và đặc sắc; góp phần tạo nên sự phong phú cùng vẻ đẹp thanh thoát, lãng mạn của quần thể kiến trúc cung đình Nguyễn tại kinh đô Huế.
Trong lịch sử kiến trúc truyền thống Việt, hình thức kiến trúc nhà tạ có lẽ xuất hiện từ khá sớm và tương tự như ở Trung Hoa, nó cũng sớm được cung đình hoá rồi gần như trở thành một hình

LĂNG ĐỒNG KHÁNH - HUẾ - THỪA THIÊN HUẾ
Lăng Đồng khánh: Toạ lạc tại một vùng quê tĩnh mịch thuộc thôn Thượng Hai, xã Thuỷ Xuân, thành phố Huế, nằm giữa khu lặng mộ bà con quyến thuộc, trong đó có lăng Thiệu Trị (ông nội ), Lăng Tự Đức (Bác ruột và cha nuôi). Đồng Khánh qua đời trong khi chưa xây dựng được lăng mộ cho mình. Vua Thành Thái lên ngôi, do điều kiện kinh tế khó khăn, ban đầu ông lấy điện Trung Tự - đồi thành Ngưng Hy để thờ vua Đồng Khánh. Thi hài của nhà vua củng được an táng đơn giản trên quả đồi có tên là Hộ Thuận, cách điện Ngưng Hy 30m về phía Tây. Toàn bộ ku lăng tẩm được gọi là Tư lăng.

LĂNG KHẢI ĐỊNH - HUẾ - THỪA THIÊN HUẾ
Lăng Khải Định: Vua Khải Định lên ngôi năm 1916, là vị vua thứ mười hai của triều Nguyễn và là người cuối cùng xây dựng lăng tẩm cho mình.
Sau khi dập tắt cuộc khởi nghĩa Thái Phiên- Trần Cao Vân 1916, chính phủ bảo hộ Pháp bắt vua Duy Tân đày sang đảo Réunion ở Châu Phi, rồi đưa Nguyễn Phúc Bửu Đảo- con trai duy nhất của vua Đồng Khánh lên ngôi. Bửu Đảo đặt niên hiệu là Khải Định, trị vì được 9 năm thọ 40 tuổi. Khải Định chọn miền núi Châu Chữ- còn gọi là Châu Ê cách Huế 10km để xây lăng. Tọa lạc ở vị trí này lăng lấy một quả đồi nhỏ ở phía trước làm tiền án, hai ngọn núi phía trước (Chóp Vung và Kim Sơn) làm Long Châu — Hổ Phục. Hướng lăng chánh Tây, có khe Châu Ê chảy từ tả sang hữu làm

LĂNG DỤC ĐỨC - HUẾ - THỪA THIÊN HUẾ
Lăng Dục Đức:Là khu mộ chung của 3 thế hệ vua triều Nguyễn: Dục Đức (Cha), Thành Thái (con) và Duy Tân (cháu). Tại đây cũng có 2 khu điện Long Ân và khu Lăng Mộ. Lăng có hình chữ nhật, có diện tích 3445m2.
Lăng Đồng Khánh (1886-1888) (Tư Lăng)
Nằm ở phía Tây núi Khiêm Sơn thuộc địa phận làng Thượng Hai, xã Thủy Xuân, thành Phố Huế. Lăng Đồng Khánh có dấu hiệu mở đầu của thời kỳ kiến trúc pha tạp Âu —Á, tân-cổ.

LĂNG THIỆU TRỊ - HUẾ - THỪA THIÊN HUẾ
Lăng thiệu Trị: Nằm ở làng Cư Chánh, huyện Hương Thủy, cách kinh thành không xa khoảng 10km trên núi Thuận Đạo.
So với lăng Gia Long và Minh Mạng, khu lăng này ở tại một địa điểm gần hơn đối với Kinh thành. Về bố cục kiến trúc trên mặt bằng tổng thể, nếu lăng Minh Mạng đã ghép ba trục của lăng Gia Long lại làm một trục duy nhất, thì lăng Thiệu Trị lại dung hòa hai mô thức trên bằng cách thiết kế thành hai trục: trục lăng nằm bên phải và trục tẩm (khu vực điện thờ) nằm bên trái. Hai trục cách nhau chừng 100m. Nói cách khác, các nhà kiến trúc lăng Thiệu Trị đã cắt phần giữa của lăng Minh Mạng (điện thờ) đặt riêng ra một bên và nối hai phần trước và sau của lăng ấy lại với nhau làm...

LĂNG GIA LONG - HUẾ - THỪA THIÊN HUẾ
Lăng Gia Long: Nằm ở tả ngạn sông Hương, trên đồi Chánh Trung, cách trung tâm Huế 16km. Lăng được xây theo kiểu thức đơn sơ nhưng hoành tráng, như cuộc đời của một vị võ tướng. Các công trình được trải ra theo chiều ngang. Rộng rãi, mênh mông, nhưng ở đây không có lâu đài đình tạ và cũng chẳng xây dựng la thành. Núi đồi xung quanh dăng ra như một vòng thành thiên nhiên bao bọc. Trước lăng có hồ bán nguyệt, phía sau hồ là sân chầu với hai hàng võ sĩ, voi, ngựa đá, rồi đến sân Tế cao dần đến Bửu Thành – nơi đặt mộ nhà Vua và mộ Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu. Bên trái Bửu Thành là nhà bia, bên phải là điện thờ. Đơn giản nhất là trong khu mộ táng thi hài Vua và hoàng hậu: hai nấm mồ...
LĂNG TỰ ĐỨC - HUẾ - THỪA THIÊN HUẾ
Lăng Tự Đức được xây dựng trong một bối cảnh lịch sử cực kì khó khăn của đất nước và cũng chính bản thân nhà vua.
Vua sinh năm 1829, lên ngôi năm 20 tuổi (1848). Sau đó 10 năm, thực dân Pháp tấn công Đà Nẵng (1858) mở màn cho cuộc xâm chiếm nước ta, rồi đánh chiếm Gia Định (1859) và một số tỉnh khác ở Nam Kì (1862)… Vua Tự Đức đã là người hấp thụ khá đầy đủ nền văn hóa và triết học Đông phương với một số mâu thuẫn nội tại của nó giữa cái tích cực lúc trẻ và nội tại lúc già, giữa sự sống và cái chết. Càng thất bại trước việc nước việc nhà khi càng lớn tuổi, ông càng bi quan yếu thế. Nhà vua nghĩ đến cái chết tất nhiên sẽ đến với đời mình và để vơi bớt những dằn vặt

LĂNG MINH MẠNG - HUẾ - THỪA THIÊN HUẾ
Lăng Minh Mạng: Vào tháng 2/1820 vua Gia Long băng hà, hoàng tử Nguyễn Phúc Đảm, con trai thứ tư của vua và là con của bà vợ thứ hai lên nối ngôi, đặt niên hiệu là Minh Mạng (theo lẽ hoàng tử Cảnh lên ngôi nhưng vì Cảnh chết). Vua Gia Long có nhiều con trai (triều Nguyễn không phong hoàng hậu, thái tử và tể tướng), nhưng hoàng tử Cảnh khi gởi làm con tin thì được coi là thái tử. Giám mục Bá Đa Lộc (Pigneau de Béhame) dạy cho cho Nguyễn Cảnh (hoàng tử Cảnh được rửa tội theo nghi lễ Thiên Chúa Giáo) với ước mơ biến đất nước Đàng Trong thành đất Kitô Giáo nhưng hoàng tử Cảnh chết vì bị bệnh đậu mùa khiến ý đồ của Bá Đa Lộc không thành. Sau đó vua Gia Long không chọn truyền ngôi cho con trai

LĂNG TẨM HUẾ - HUẾ - THỪA THIÊN HUẾ
Lăng Tẩm Huế: Triều Nguyễn (1802 - 1945) có đến 13 Vua, nhưng vì những lý do lịch sử phức tạp khác nhau, nên hiện nay ở Huế chỉ có 7 khu lăng tẩm. Đó là các lăng Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Dục Đức (ở đây còn có mộ hai Vua Thành Thái và Duy Tân), Đồng Khánh và Khải Định.
Mỗi lăng tẩm đều có một vài nét kiến trúc đặc thù: thâm nghiêm - đối xứng (lăng Minh Mạng), thơ mộng – ngẫu hứng (lăng Tự Đức)…

BẢO TÀNG CỔ VẬT ĐIỆN LONG AN - HUẾ
Bảo Tàng Cổ Vật Điện Long An: Bảo tàng chiếm diện tích 6.330m². Bao gồm tòa nhà chính ở giữa và một số nhà kho, nhà ở cho nhân viên. Tòa nhà chính từng là Diên Long An trong cung Bảo Định, được xây dựng từ năm 1845 thời Thiệu Trị. Nơi đây là chốn vui chơi giải trí cho vua Thiệu Trị khi đi làm lễ Đình Điền hàng năm. Năm 1847, vua Thiệu Trị qua đời, nơi đây được dùng để thờ vua. Năm 1885, quân Pháp đóng quân ở đây nên vua Thành Thái cho dời việc thờ cúng về điện Phụng Tiên. Năm 1913, Hội Đô Thành Hiếu Cổ của người Pháp được thành lập. Nên năm 1923 bảo tàng Khải Định được đổi tên thành Tàng Cổ Viện. Đến 1958, Tàng Cổ Viện được gọi là Bảo Tàng Huế. Sau ngày giải phóng 1975, có thể gọi là nhà trưng bày

QUỐC TỬ GIÁM - HUẾ - THỪA THIÊN HUẾ
Quốc Tử Giám: Là trường đại Học duy nhất lúc bấy giờ. Để đào tạo nhân tài, lần đầu tiên Quốc Tử Giám thành lập chính thức vào năm 1706 tại Thăng Long dưới thời Lý. Đến đầu triều Nguyễn, triều đình mở Quốc Tử Giám tại Huế.
Khoa thi đầu tiên được tổ chức vào năm 1822 và khoa thi cuối cùng tổ chức tại Quốc Tử Giám vào năm 1919 dưới thời Khải Định. Văn miếu và Quốc Tử Giám lúc đầu được xây dựng ở làng An Ninh. Năm 1908, Quốc Tử Giám được dời vào trong Thành Nội.

ĐIỆN ĐẠI HÙNG - HUẾ - THỪA THIÊN HUẾ
Điện Đại Hùng: Tiếp tục đi vào trong ta đến Điện Đại Hùng. Đây là ngôi chính điện trong chùa, kiến trúc kiểu Trùng thiền điệp ốc. Đền được phục chế năm 1959, các cột kèo, lăng, bệ được xây dựng bằng bê tông bên ngoài một lớp sơn giả gỗ. Trong điện thờ tượng phật Di Lặc. Phật có tai to để nghe những chuyện khổ của thiên hạ, bụng to để bao dung những chuyện khổ dung trong thiên hạ, miệng rộng hay cười những chuyện khó cười trong thiên hạ.
Ở bức hoành phi trên cao có 4 chữ “ Linh Thửu Cao Phong”. Người ta so sánh nơi chùa tọa lạc giống như đồi Linh Thửu ở đất Ấn Độ, nơi đất Phật đắc đạo.
Qua khỏi nơi thờ tượng Di Lạc, ở bên trong người ta thờ Tam Thế Phật ở chính giữa, hai bên làVăn Thù Bồ Tát và Phổ Hiền.

ĐÌNH HƯƠNG NGUYỆN - HUẾ - THỪA THIÊN HUẾ
Đình Hương Nguyện: Bước lên 15 bậc cấp từ cổng tam quan ta đến đình Hương Nguyện, mà ngày nay chỉ còn lại cái nền ở trước tháp Phước Duyên. Đây là một công trình kiến trúc bằng gỗ của vua Thiệu Trị (1841-1847). Sau đó đã bị bão đánh đổ. Đây là một ngôi nhà tứ giác độc đáo của 150 năm trước. Đứng giữa nhà nhìn lên, ta thấy hình bát quái được cấu trúc khéo léo ở giữa mái có một số bài thơ chữ Hán được chạm mới.
Qua khỏi sân trước là cổng tam quan chùa, trên có biển đề “ Thiên Mụ Tự”. Có 3 cửa ra vào. Cả ba cửa đều có hộ pháp trấn giữ. Ngay sau cổng tam quan là lầu tượng Thập Nhị Dược Xoa Đại Tướng ngồi trên các con thú.

CẦU TRÀNG TIỀN - HUẾ - THỪA THIÊN HUẾ
Cầu Tràng Tiền: Bắc qua sông Hương có rất nhiều cầu, nhưng chỉ có một cây cầu đã trở thành biểu tượng của Huế , đó là cầu Trường Tiền.
Theo sách Đại Nam Thống Nhất Chí do Quốc Sử Quán triều Nguyễn biên soạn: “cầu sắt Trường Tiền ở đông nam kinh thành… khởi làm năm Thành Thái thứ 9 (1897) cầu có 12 vài, 6 nhịp, dài khoảng 400m, đến năm 1899 mới xong”.
Tháng 8 – 1904, một cơn bão dữ dội tràn vào miền Trung Việt Nam, cầu bị sập 4 nhịp.
Năm 1906, cầu được sửa chữa lại. Cầu Trường Tiền hôm nay đã được tu bổ nhiều lần. Đầu cầu phía Bắc xưa có chợ nhỏ bên bến đò Trường Tiền là chợ Đông Ba, nay chợ Đông Ba đã trở thành trung tâm thương mại lớn.

NÚI NGỰ BÌNH - HUẾ - THỪA THIÊN HUẾ
Núi ngự Bình: Núi còn có tên là Băng Sơn, cách kinh thành Huế khoảng 3km. Nhìn từ xa Ngự Bình có dạng hình thang, đỉnh bằng phảng cao 105m. Xét về phong thủy, Ngự Bình có thế bình phong che chở cho kinh thành.
Cùng với sông Hương, núi Ngự Bình là quà tặng vô giá thứ hai của tạo hóa, quyện vào nhau tạo nên vẻ sơn thủy hữu tình của Huế. Từ lâu ngọn núi xinh đẹp này cùng với dòng sông Hương trong xanh đã trở thành biểu tượng của thiên nhiên Huế. Nhiều người đã quen khi nhắc đến Huế cũng đồng thời là xứ sở của “sông Hương núi Ngự”.

SÔNG HƯƠNG - HUẾ - THỪA THIÊN HUẾ
Sông Hương: Gọi là sông Hương vì từ xa xưa, dòng sông này chảy qua những cảnh rừng nhiều thảm mộc có hương thơm nên khi chảy qua Huế dòng sông mang theo hương thơm của cây cỏ thiên nhiên.
Sông Hương dài 80km, đoạn sông chảy qua Huế uốn lượn như sắp đặt nhằm tôn tạo thêm vẻ kiều diễm cho Huế và làm vui lòng du khách. Thuyền sẽ đưa du khách dạo bên khu kinh thành, dưới cầu Dã Viên, Phú Xuân, Trường Tiền, đưa du khách lên thăm lăng Minh Mạng, điện Hòn Chén, chùa Thiên Mụ…rồi xuôi về Thuận An tắm biển. Du khách thích suy tư xin mời ngược dòng sông lên rừng thông lăng Thiên Thọ để nghe vi vút thông reo.
Khi đêm về dưới ánh trăng, mặt sông Hương như dác bạc, giọng hò man mác cất lên, du khách hãy đón chén rượu từ tay cô gái...
CHƠ ĐÔNG BA - HUẾ - THỪA THIÊN HUẾ
Chợ Đông Ba: Từ Nam ra Bắc, từ Bắc vào Nam, du khách đều biết đến ba tên chợ nổi tiếng: chợ Đồng Xuân ở Hà Nội, chợ B5ến Thành ở Tp Hồ Chí Minh, chợ Đông Ba ở Huế.
Chợ Đông Ba trước kia từ thời Gia Long đặt tại phường Đông Phước. Chợ được xây dựng bằng gạch và gạch ngói, được gọi là chợ Đông Phước hay là chợ Quy Gia Thị. Về sau chợ dời ra cửa Đông Hoa nên chợ lại mang tên mới là chợ Đông Hoa. Vì kiêng tên của bà Hồ Thị Hoa- là vợ vua Minh Mạng thứ 20 nên đổi tên chợ là chợ Đông Ba.
Chợ Đông Ba là công trình được xây dựng vào loại sớm cùng với trường Quốc Học và cầu Tràng Tiền dưới thời vua Thành Thái.

CHÙA TỪ HIẾU - HUẾ - THỪA THIÊN HUẾ
Chùa Từ Hiếu: Chùa tọa lạc ở thôn Dương Xuân Thượng III, xã Thủy Xuân, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Chùa ban đầu là am An dưỡng do hòa thượng Nhất Định dựng vào năm 1843. Năm 1848, sau khi hòa thượng viên tịch một năm, các vị thái giám trong triều lo nghĩ khi chết không người thờ tự nên đã nghĩ đến cách ký thác thể xác và tâm hồn cho nhà chùa, vì thế đã cúng góp tiền của mua ruộng đất cúng vào nhà chùa và xin Vua ban cấp tiền bạc, vật liệu tu sửa, xây dựng chùa Từ Hiếu thành một ngôi chùa lớn.
Chùa xây theo kiểu chữ khẩu có 3 gian 2 chái. Chính điện phía trước dùng để thờ phật, phía sau dùng để thờ Tổ. Hậu điện là Quảng Hiếu Đường. Ở giữa thờ các đức thánh quan, bên trái thờ

CHÙA THIÊN MỤ - HUẾ - THỪA THIÊN HUẾ
Chùa thiên Mụ: Từ cầu Phú Xuân chạy đến cửa kinh thành Huế, ngang qua Ngọ Môn, chạy thẳng đến một ngả ba, đi thẳng vào đường nhỏ là đến chùa Thiên Mụ. Sau khi qua khỏi ngã ba, chúng ta đến làng Kim Long (con rồng vàng). Từ trung tâm đến chùa thiên Mụ chúng ta cũng có thể đi bằng thuyền. Làng Kim Long ngày xưa có tên là An Ninh Hạ, còn An Ninh Thượng là nơi có chùa Thiên Mụ. Làng Kim Long từ xưa đã nổi tiếng bởi làng có nhiều cô gái đẹp. Vua Thành Thái và Duy Tân lấy vợ là người làng này. Hai vị vua này là nhũng người duy nhất cho phép vợ ăn chung mâm và xương hô anh em. Lên một đoạn nữa, dọc bờ sông ta thấy có nhiều cây bắp. Dòng Hương buổi sáng sương mờ lan như một làn khói

CỬU ĐỈNH - HUẾ - THỪA THIÊN HUẾ
Cửu Đỉnh: Chín đỉnh đồng còn lại với Huế hôm nay được khởi công đúc vào cuối năm Minh Mệnh thứ 16 (12-1835) và hoàn thành vào đầu năm Minh Mệnh thứ 18 (3-1837) là thành tựu xuất sắc của nghệ thuật đúc đồng Việt Nam.
Tuy nặng nhẹ cao thấp khác nhau nhưng nhìn chung cả chín đỉnh đồng đều tác thành ý tưởng đồng nhất, đó là những nét tổng quan về hình dáng, qui mô và các hình đúc nổi. Bởi vậy cả chín đỉnh đều toát lên một ngôn ngữ chung: nhất thống, vững bền, thịnh vượng và trong điều chung là chủ yếu ấy, người xưa vẫn cố ý thả những nét riêng mang tính đặc thù trên mỗi đỉnh như là đất nước nhiều dân tộc của nhiều vùng miền hợp lại. Ấy là cặp quai vuông

HIỂN LÂM CÁC - HUẾ - THỪA THIÊN HUẾ
Hiển Lâm Các được xây dựng cùng lúc với Thế Miếu trên một nền hình chữ nhật. Ở phía trước và sau có hai bậc cấp nối với sân Thế Miếu, hai bên thành bậc đắp hai hình rồng chia thành ba lối đi, lối giữa dành cho vua. Hiển Lâm Các là kiến trúc bằng gỗ ba tầng. Tầng một thờ trời, tầng hai thờ đất, tầng ba tuyên dương công trạng của những vị vua anh minh.
Đây là đài tưởng niệm duy nhất ghi công những người đã góp phần sáng lập nên triều Nguyễn. Các vua được thờ trong Thế Miếu, các công thần được thờ trong Tả, Hữu Tùng Tư ở hai bên Hiển Lâm Các. Vì tính cách thiêng liêng như thế nên triều Nguyễn đã có chỉ dụ cấm làm mọi công trình kiến trúc trong kinh thành

DUYỆT THỊ ĐƯỜNG - HUẾ
Duyệt Thị Đường: Nhà hát hoàng gia xây dựng vào năm 1826 dưới thời Minh Mạng. Nhà hát xây theo hình chữ nhật. Trên trần nhà màu xanh lơ vẽ hình mặt trời, mặt trăng, tinh tú tượng trưng cho vũ trụ. Tòa nhà nối liền cung điện nhà vua và các bà hoàng bằng một hành lang.
Sân khấu hình vuông đặt giữa tòa nhà, không có sự bài trí để phân biệt giữa đời thực và thế giới ước lệ của sân khấu. Bức tường ở cuối sân khấu trổ ra hai cửa, diễn viên vào phía phải ra phía trái. Sau bức tường đó là một phòng rộng đựng đạo cụ. Ở vị trí cao nhất trong phòng là một cái khám thờ hai ông tổ sư nghề hát bội. Phòng này trổ cửa ra sân ở mé Đông Tử Cấm Thành. Các nghệ nhân ra vào lối này. Đối xứng với bức tường qua sân...

THẾ MIẾU - HUẾ - THỪA THIÊN HUẾ
Thế Miếu: Sau lưng Thế Miếu là Hưng Miếu thờ chúa Nguyễn Phúc Luân - cha của vua Gia Long. Vua Gia Long mất được phong là Thế Tổ Cao Hoàng Đế.
Thế Miếu được xây dựng vào năm 1821, khánh thành vào năm 1822. Vua Minh Mạng còn trồng nhiều thông và uốn cây tạo thành chim phượng hoàng vì quan niệm cho rằng chỗ nào có phượng hoàng sà xuống là chỗ đó thái bình, an cư.
Nguyên tắc ở đây là “Nhất Tả Nhất Hữu, Nhị Tả Nhị Hữu”. Thế Miếu có 10 áng thờ:

THÁI BÌNH LÂU - HUẾ - THỪA THIÊN HUẾ
Thái Bình Lâu là nơi vua đọc sách, được xây trong vườn Thiêu Phương. Đây là tòa nhà duy nhất trong Tử Cấm Thành còn nguyên vẹn. Phía trước có hòn non bộ, biểu tượng cho thiên nhiên cây cỏ. Đó là thú chơi tao nhã. Cả núi sông thu vào đây.
Trước có một ngôi nhà để các quan vào chầu vua. Bên hông có vườn ngự uyển. Từ Thái Bình Lâu ra vườn phải qua hai cổng. Nhà này xây thời Minh Mạng bằng gỗ. Vua Khải Định đã cho sửa lại, cho trang trí khảm. Ba vị trên nóc nhà là Hải Óc Khiêm Trù chứ không phải là Phước Lộc Thọ. Trù nghĩa là một thẻ. Ba ông gặp nhau nói rằng “cứ 10 năm sẽ để mộ thẻ vào bình, khi nắp được 10 thẻ có nghĩa là 100 năm”. Họ cầu mong cho sự trường thọ và sự phát triển.

ĐIỆN THÁI HÒA - HUẾ - THỪA THIÊN HUẾ
Điện Thái Hòa là trung tâm kiến trúc của Hoàng cung. Nó là ngôi đình cho tới nay còn lưu lại nết vàng son lộng lẫy và mang trên mình nó những văn hóa truyền thống nghệ thuật sâu đậm. Điện được lợp mái ngói hoàng lưu ly. Nếu Ngọ Môn có 100 cột gỗ lim thì Điện Thái Hòa có 96 cột.
So sánh với mấy chục tòa cung điện khác trong phạm vi hoàng cung triều Nguyễn, Điện Thái Hòa là kiến trúc quan trọng nhất, xét nhiều về mặt chức năng, vị trí, ý nghĩa lịch sử, giá trị văn hóa nghệ thuật…
Vào đầu thế kỉ XIX, khi quy hoạch mặt bằng hệ thống kiến trúc cung đình kinh thành Huế, các nhà kiến trúc đương thời đã định vị cho Điện Thái Hòa ở vào trung tâm điểm của nó chỉ vì những lý do đơn giản nhưng rất hệ trọng: đó là nơi đặt ngai vàng. Dưới

SÂN BÁI ĐÌNH - HUẾ - THỪA THIÊN HUẾ
Sân Bái Đình: Sân này là nơi các quan đại thần đứng sắp hàng theo phẩm trật quay mặt vào Điện Thái Hòa để làm lễ đại triều. Ở trong Điện Thái Hòa chỉ có vua ngự trên ngai vàng, các hoàng thân và bốn vị đại thần hầu vua.
Ở hai bên sân có hai con lân – một trong tứ linh (rồng thể hiện vua, lân thể hiện lòng trung thành với vua, rùa- trường thọ, phụng- sức mạnh và trí tuệ, nếu phụng đặt trong kiến trúc dành cho phái nữ thì nó thể hiện cho phái đẹp). Lân ở đây thể hiện lòng trung thành của các quan đại thần.
Sân chầu có 3 cấp. Hai cấp trên lát đá thanh, cấp dưới lát gạch. Tầng cao nhất gọi là Đệ nhất bái đình dành cho các quan từ nhất...
CẦU TRUNG ĐẠO - HUẾ - THỪA THIÊN HUẾ
Cầu Trung Đạo bắc qua hồ Thái Dịch. Cầu được xây bằng gạch, mặt dưới gồm nhiều vòm cuốn. Hai đầu cầu có hai cổng dựng bằng 4 cột đồng. Trên cột đồng trang trí hoa sen. Điều này mang ý nghĩa đó là những ngọn đuốc soi sáng cho vua. Hai cột giữa cao chạm trổ rồng 5 móng. Tuy hai trụ đối xứng nhau, nhưng một bên rồng vươn lên, một bên lao xuống, tạo sự sinh động, hấp dẫn. Phía trên có những khung hình chữ nhật trang trí bằng pháp lam rực rỡ và có gắn hai chữ nổ khá lớn “Trung hòa vị đục” – “Trung“ là cái gốc lớn của thiên hạ, “hòa” là đạt đạo của thiên hạ. Khi thực hiện được sự trung hòa rồi trời đất yên ổn, vạn vật sinh sôi nảy nở. Cầu trung đạo dẫn đến sân chầu trước điện Thái Hòa.

LẦU NGŨ PHỤNG - HUẾ - THỪA THIÊN HUẾ
Lầu Ngũ Phụng có hai tầng dưới lớn trên nhỏ. Bộ sườn làm bằng gỗ lim. Lầu gồm 9 bộ mái lợp ngói ống tráng men vàng và xanh. Ngói được lợp theo kiểu âm dương. Lầu dựng ở một nền cao 1,14m xây trên đài. Tòa nhà lầu có 100 cây cột chẵn, trong đó có 48 cột ăn suốt cả hai tầng. Số 100 này cũng là con số hướng về đất tổ. Hơn nữa nó cũng tượng trưng cho 50 âm và 50 dương cộng lại thể hiện cho âm dương hài hòa. Đâu có âm dương hài hòa thì ở đó có vạn vật sinh sôi nảy nở. Ngói vàng hoàng lưu ly cho vua vì vua là minh thổ mà đất lại là màu vàng nên nhà ở của vua lợp vàng, áo vua cũng màu vàng (Hoàng Bào)….

ĐẠI NỘI - HUẾ - THỪA THIÊN HUẾ
Đại nội ngày nay là nơi chúa Nguyễn Phúc Chu (1687 – 1691) đã dựng thủ phủ của Đàng Trong vào năm 1687 khi ông dời thủ phủ từ làng Kim Long về. Sau đó thủ phủ Phú Xuân được dời đi nơi khác .
Đến thời Gia long (1802 – 1819) sau khi chọn Phú Xuân làm kinh đô cho cả nước thống nhất vào năm 1802, nhà vua lại dùng vị trí ấy để xây dựng tạm thời một số cung điện đơn giản dành cho hoàng gia ăn ở và triều đình làm việc. Năm 1804 vua Gia Long giao cho 2 đại thần Nguyễn Văn Chương và Lê Chất đứng ra điều khiển công tác xây dựng Đại Nội, bao gồm Hoàng Thành và Cung Thành. Cung Thành nằm trong lòng Hoàng Thành. Vào năm 1822

ĐÀN NAM GIAO - HUẾ
Đàn Nam Giao: Trong lịch sử các triều đại quân chủ Việt Nam. Kể từ nhà Lý (1010-1225), đàn Nam Giao đã được thiết lập ở Kinh Đô Thăng Long để tế trời. Trong thời Hậu Lê (1427-1788), qui cách kiến trúc đàn tế và nghi lễ cúng tế được chỉnh đốn đàng hoàng hơn.
Riêng ở Huế, xưa nay có 4 vị trí xây dựng đàn Nam Giao khác nhau để các vua chúa lên tế trời hàng năm, hoặc ba năm một lần.
Dười thời chúa Nguyễn Phúc Lan (1635-1648), đàn tế trời được thiết lập ở một khoảnh đất thuộc làng Kim Long gần nơi đóng thủ phủ.
Qua triều Tây Sơn (1788-1801), lễ tế trời diễn ra ở một ngọn đồi gần phía Tây núi Ngự Bình, gọi là Hòn Thiên hay núi Ba Tầng.

CHỢ AN CỰU - HUẾ - THỪA THIÊN HUẾ
Chợ An Cựu: Ngã ba rẽ phải là đường Lê Duẩn, vào nội thành thành phố Huế.
Huế là một thành phố ở miền Trung Việt Nam. Thành phố Huế tọa lạc hai bên bờ dòng sông Hương. Huế nằm ở phía bắc đèo Hải Vân, cách Đà Nẵng 112km. Theo số liệu của Ngân hàng Bản đồ trực tuyến Ba Sao, thành phố Huế có tọa độ địa lý trong khoảng từ 16 025-16 029 vĩ độ Bắc và từ 107 032-107 036 kinh độ Đông. Thành phố Huế có diện tích 67,7 km0, có cả vùng gò đồi, vùng đồng bằng, diện tích mặt nước. Huế cách biển Thuận An 12 km, cách sân bay Phú Bài 18 km, cách Cảng nước sâu Chân Mây 50 km. Mật độ dân số gần 4200 người/km2.

SÂN BAY PHÚ BÀI - HUẾ
Sân bay Phú Bài: Cách Huế 13 Km, mất khoảng 30 phút ôtô. Sân bay Phú Bài có từ thời Pháp, nó từng là nơi đóng quân của sư đoàn 3 Thuỷ quân lục chiến. Sư đoàn này có nhiệm vụ phụ trách vùng I chiến thuật của chính quyền cũ. Đã có khoảng 3.000 quân Mỹ đóng tại đây trong thời gian đó. Hiện nay là sân bay dân dụng Phú Bài-Huế. Ngày nay sân bay trở thành một trong những sân bay lớn của miền Trung. Nhân dịp lễ hội Festival Huế 2000 Viêtnam Airline đã đầu tư 64 tỉ đồng nâng cấp sân bay Phú Bài, kéo dài đường băng lên 3.400m có thể đón được các loại máy bay lớn như: Boeing, Airbus,.. Mới đây chính phủ đã quyết định đầu tư 150 tỉ đồng nâng cấp sân bay Phú Bài thành cảng hàng không Quốc tế Phú Bài–đây là một cơ hội rất lớn cho thành phố Huế–thành phố Festival phát triển.

BÃI BIỂN LĂNG CÔ - HUẾ - LĂNG CÔ - BIỂN LĂNG CÔ
Bãi Biển Lăng Cô: “Lăng Cô” ngày xưa vốn có tên gọi “Làng Cò” bởi vì có rất nhiều cò sinh sống tại đây, về sau “Làng Cò” được đọc trại thành “Lăng Cô”. Cũng có truyền thuyết cho rằng vị tiền hiền khai khẩn vùng đất này vốn là một người con gái. Sau khi mất, để nhớ ơn, người dân đã xây lăng để thờ cô gái và gọi là Lăng Cô. Thời Pháp thuộc, vùng đất phía Bắc đèo Hải Vân được gọi là Lan Củ. Tên Lăng Cô cũng có thể là do đọc trại của cụm từ này.
Từ trên đỉnh đèo nhìn xuống, Lăng Cô như một tấm lụa trắng mềm mại bao quanh khung cảnh thiên nhiên xanh mát, thuyền bè đậu san sát trông thật nên thơ. Lăng Cô còn có đặc sản là mắm sò huyết, mắm tôm và các đặc sản biển khác rất rẻ và ngon. Dân cư

LỊCH SỬ THÀNH PHỐ HUẾ - THỪA THIÊN HUẾ - THÀNH PHỐ HUẾ
Lịch Sử Thành Phố Huế: Thành phố Huế nằm trên đôi bờ dòng sông Hương, giữa miền Trung nước Việt, lưng dựa vào dãy Trường Sơn hùng vĩ, mặt hướng ra biển Đông cách xa chừng 12km. Huế nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa với 2 mùa mưa nắng rõ rệt.
Đầu tiên Nguyễn, thành phố Huế ngày nay là đất kinh sư của triều đình. Đến thời Pháp thuộc, vào ngày 20/10/1898, vua Thành Thái ra Dụ thành lập thị xã Huế. Đến ngày 12/12/1929, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định chuyển thị xã Huế lên thành phố Huế. Huế hiện nay là thành phố loại 2, thủ phủ của tình Thừa Thiên Huế với dân số 291.761 (1/4/1999) phân bố không đều trên diện tích 67,77km2 gồm 20 phường nội thành và 5 xã ngoại thành.

KINH THÀNH HUẾ - THỪA THIÊN HUẾ
Kinh Thành Huế: Triều Nguyễn có 13 vua mở đầu là vua Gia Long lên ngôi vào (1802-1820). Bốn triều vua đầu tiên của triều Nguyễn được coi là thịnh trị nhất, vua cuối cùng là Vua Bảo Đại (1925-1945). Triều Nguyễn trị vì được 143 năm với 13 vua là triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam. Vua Gia Long khi lên ngôi đã cho qui hoạch và xây dựng kinh đô.
Thành Huế được xây dựng ở vị trí giữa đất nuớc, quay về hướng Nam đúng với câu “Thánh Nhân Nam Diện Nhi Thính Thiên Hạ”, nghĩa là “Bậc Thánh Nhân Nhìn Về Hướng Nam Để Nghe Thiên Hạ Cầu Xin”.
Thành Huế lấy: núi Ngự Bình cao 104m là thế Tiền án; sông

LỊCH SỬ KINH ĐÔ HUẾ - THỪA THIÊN HUẾ - KINH ĐÔ HUẾ
Lịch Sử Kinh Đô Huế: Đời Hồng Bàng (2879-258 tr.CN) đất Huế thuộc về bộ Việt Thường (bộ này gồm dãy đất từ Phú Hải Lăng (tỉnh Quảng Trị) đến Phủ Diện Bàn (tỉnh Quảng Nam). Đời Rhục Phán An Dương Vương (214 tr.CN). Tần Thủy Hoàng sai Đồ Thư và Sử Lộc cướp đất Linh Nam, đặt ra ba quận là Nam Hải, Quế lâm và Tượng Quân ra làm ba quận là Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam. Nhật Nam có 5 huyện.
Cuối đời Hán, nhân lúc nhà Hán Loan lạc dân huyện Tương Lâm-quân Nhật Nam (bộ lạc Dừa-Champa) vốn là nơi xa xôi nhất đã liên tục nổi liền và đã giành được thắng lợi. Người lãnh đạo khởi nghĩa là Khu Liên lên làm “vua”, gọi nước là Lâm Ấp. Đến năm
MỤC SỞ THỊ NHỮNG KHU NHÀ MỒ - HUẾ
Vài năm về trước, người Pa Cô ở thôn Đụt rất sợ ma. Sau khi chôn người chết, họ không còn ra thăm viếng piêng hay thờ cúng trong nhà, 3 - 5 năm sau, họ làm lễ cải táng để đưa hài cốt lên mặt đất, từ đó nghĩa vụ đền đáp ơn sinh thành coi như đã trọn. Ông Xếp kể rằng, chính ông là người đầu tiên học theo người Kinh thường xuyên vào nhang khói, vệ sinh cho piêng mỗi ngày lễ tết. Bây giờ, bà con học ông nên chỉ có ngày cận Tết, ra thắp nén nhang cho người khuất. Những tháng ngày còn lại của năm không một bóng người lui tới nghĩa địa.
Khi chúng tôi nói muốn vào thăm khu nghĩa địa “treo”, ông Xếp tỏ ra dè dặt. Ông bảo rằng người lạ không được vào thăm piêng bởi

KHÁM PHÁ NHÀ MỒ A LƯỚI - NHÀ MỒ A LƯỚI - A LƯỚI
Khám Phá Nhà Mồ A Lưới: Cộng đồng các dân tộc huyện miền núi A Lưới (Thừa Thiên - Huế) có tục sau khi người thân chết 3 - 5 năm phải bốc hài cốt, tạ lễ và đưa vào những ngôi nhà mồ mà không chôn xuống dưới đất, nhằm thể hiện sự hiếu nghĩa của con cháu đối với đấng sinh thành.
Dọc theo triền quốc lộ 49 qua các xã Hưng Nguyên, Hồng Nhâm, A Roàng, Hồng Trung… những chiếc quan tài nhỏ làm bằng đất nung hoặc bằng gỗ đã mục ruỗng nằm trơ ra. Dưới đất, nhiều mảnh gỗ nằm ngổn ngang giữa nhiều thứ vật dụng chia cho người chết. Đó là những nhà mồ, nghĩa địa “treo”, của cộng đồng các dân tộc Pa Cô, Tà Ôi, Vân Kiều… huyện miền núi A Lưới.

VƯỜN QUỐC GIA BẠCH MÃ - HUẾ - THỪA THIÊN HUẾ - BẠCH MÃ
Vườn Quốc Gia Bạch Mã là Vườn Quốc Gia đầu tiên được công nhận ở Việt Nam. Là một trong những nơi hiện nay còn bảo tồn động vật quý hiếm. Và hiện nay được đưa vào danh sách tham quan. Từ đây vào chân núi khoảng 3km, rồi từ đó lên núi khoảng 16km nữa bằng xe trung chuyển. Hiện nay loại xe vào được đây là loại dưới 24 chỗ. Vào đây phải liên hệ xe trước. Đây là khu do người Pháp phát hiện ra vào những năm đầu của thế kỷ 20 và họ đã xây dựng trên này những khu đô thị và sau này thời người Mỹ đã xây dựng thị trấn Bạch Mã. Hiện nay du lịch trên nay mặc dù phát triển nhưng mà chúng ta vẫn chưa có công trình gì nhiều. Ở trên này có một ngọn tháp rất đẹp tên Đỗ Quyên là thượng nguồn
CUNG ĐÌNH HUẾ - KIẾN TRÚC CUNG ĐÌNH HUẾ
Kiến trúc cung đình Huế được định hình và mang phong cách bản sắc Huế từ khi Huế là Kinh đô của VN thời triều Nguyễn. Là một trung tâm chính trị - văn hóa - kinh tế... của cả nước suốt thế kỷ XIX và nửa đầu thế kỷ XX, Kinh đô Huế có những công trình kiến trúc mỹ thuật kỳ vĩ nhất đất nước, nay còn tồn tại với mật độ dồi dào.
PHÁ TAM GIANG - PHA TAM GIANG
Phá Tam Giang giới hạn phía bắc là cửa sông Ô Lâu, phía nam là cửa sông Hương thông với biển qua cửa biển Thuận An, thuộc địa phận 12 xã của ba huyện Quảng Điền, Phong Điền, Hương Trà.
Đồng bằng ven biển Thừa Thiên – Huế có nhiều đầm phá, vũng như Phá Tam Giang, đầm thanh lam, đầm Thuỷ Tú, đầm Cầu Hai, vùng lập A. Đây là tụ hội của hầu hết các con sông trước khi đổ ra biển
BIỂN LĂNG CÔ - BÃI BIỂN LĂNG CÔ - LĂNG CÔ
“Lăng Cô” ngày xưa vốn có tên gọi “Làng Cò” bởi vì có rất nhiều cò sinh sống tại đây, về sau “Làng Cò” được đọc trại thành “Lăng Cô”. Cũng có truyền thuyết cho rằng vị tiền hiền khai khẩn vùng đất này vốn là một người con gái. Sau khi mất, để nhớ ơn, người dân đã xây lăng để thờ cô gái và gọi là Lăng Cô. Thời Pháp thuộc, vùng đất phía Bắc đèo Hải Vân được gọi là Lan Củ. Tên Lăng Cô cũng có thể là do đọc trại của cụm từ này.
Từ trên đỉnh đèo nhìn xuống, Lăng Cô như một tấm lụa trắng mềm mại bao quanh khung cảnh thiên nhiên xanh mát, thuyền bè đậu san sát trông thật nên thơ. Lăng Cô còn có đặc sản là mắm sò huyết, mắm tôm và các đặc sản biển khác rất rẻ và ngon. Dân cư tại Lăng Cô phần lớn là theo đạo Thiên Chúa Giáo, tại đây có một nhà thờ. Ở Lăng Cô còn có khách sạn, nhà hàng Lăng Cô chủ yếu là khách nước ngoài ở.

st
Share on Google Plus

VỀ Unknown

ĐẶC SẢN NGON VÀ LẠ THY VÂN: CHẢ BÒ, GIÒ ME, TRÉ, NEM, BÒ 1 NẮNG, NAI 1 NẮNG,... http://chabochinhieudanang.vn/ - http://www.dacsanthyvan.com/
    Blogger Comment
    Facebook Comment

0 nhận xét:

Đăng nhận xét

MẸ VÀ BÉ

XEM NHIỀU TRONG TUẦN

GIẢI TRÍ

ẨM THỰC

XEM NHIỀU TRONG THÁNG